You are here: Home » Blog » Lý thuyết về thuế chống bán phá giá

Lý thuyết về thuế chống bán phá giá

Trong bài viết này, khoaluantotnghiep.net xin chia sẻ đến bạn lý thuyết về thuế chống bán phá giá, bao gồm: Khái niệm, những nguyên nhân của hành động bán phá giá và vai trò của thuế chống bán phá giá

Lý thuyết về thuế chống bán phá giá
Lý thuyết về thuế chống bán phá giá

>>> Xem thêm: Quản lý chi phí và các biện pháp quản lý chi phí trong doanh nghiệp

1. Khái niệm bán phá giá và thuế chống bán phá giá

1.1. Khái niệm bán phá giá

Trong ngôn ngữ tiếng Việt, “Bán phá giá” thường được hiểu là hành động bán một mặt hàng với giá thấp hơn giá hiện hành của mặt hàng đó trên thị trường, làm cho những người bán hàng khác hạ giá bán. Như vậy ở đây có sự so sánh về giá ở hai thị trường khác nhau: thị trường nước nhập khẩu và thị trường nước xuất khẩu, mặc dù giá bán ở thị trường tiêu thụ (nước nhập khẩu) có thể không khác nhau, thậm chí có thể xảy ra trường hợp giá bán cao hơn giá hiện hành. Nhìn chung, các tài liệu quốc tế đều thống nhất hiện tượng “bán phá giá” xảy ra khi hàng hoá xuất khẩu được bán sang một nước khác với giá thấp hơn giá bán tại thị trường nội địa (của nước xuất khẩu). Nếu đọc lướt qua, định nghĩa này thật là đơn giản, chỉ việc so sánh giữa giá xuất khẩu với giá bán tại nội địa, nếu giá xuất khẩu thấp hơn giá nội địa tức là có sự bán phá giá. Tuy nhiên, sự việc lại không đơn giản chút nào khi một loạt câu hỏi được đặt ra cần giải quyết khi so sánh giá để đảm bảo sự chính xác và công bằng: giá nội địa là giá nào? Là giá bán buôn hay giá bán lẻ? Giá xuất khẩu là giá nào? …

1.2. Thuế chống bán phá giá

Là một sắc thuế mà nước nhập khẩu đánh vào một mặt hàng nhập khẩu được bán phá giá với mục đích ngăn cản sự tiếp diễn của việc bán phá giá đó để tránh gây thiệt hại cho ngành sản xuất mặt hàng tương tự ở trong nước.

2. Những nguyên nhân của hành động bán phá giá

Mỗi một hành động bán phá giá đều nhằm đạt được một số mục tiêu cụ thể và có một số nguyên nhân dẫn đến hành động đó. Chúng ta có thể phân tích và tổng hợp thành một số nhóm nguyên nhân như sau:

2.1. Bán phá giá nhằm đạt mục tiêu chính trị thao túng các nước khác

Chính phủ Mỹ đặc biệt quan tâm đến xuất khẩu gạo bởi vì cạnh tranh giá gạo bây giờ ảnh hưởng lớn đến việc đạt các mục tiêu quan trọng khác. Mỹ sẵn sàng bỏ ngân sách mua phần lớn số gạo trên thị trường thế giới rồi bán phá giá. Điều này làm cho nhiều nước xuất khẩu gạo phải lao đao và sẽ phải chịu vòng phong toả của Mỹ. Chẳng hạn, giá xuất khẩu gạo của Mỹ khoảng 400USD/ tấn, nhưng các nhà xuất khẩu gạo Mỹ sẵn sàng mua với giá 500USD/ tấn, thậm chí cao hơn đến 800USD/tấn, và họ cũng sẵn sàng bán ra thị trường thế giới chỉ bằng 60 – 70%, thậm chí đến 40% giá mua. Mức giá này thấp hơn nhiều so với giá thành của chính nông dân Mỹ sản xuất ra. Như vậy, Mỹ có thể sẵn sàng bỏ ra 700 – 800 triệu USD/ năm để tài trợ giá xuất khẩu gạo nhằm thực hiện mục tiêu của mình. Chính vì điều này mà mặc dù sản lượng gạo của Mỹ hàng năm thấp nhưng Mỹ lại thao túng giá gạo trên thị trường thế giới.

2.2. Do có các khoản tài trợ của Chính phủ

Chính phủ các nước phương Tây coi tài trợ là con đường ngắn nhất để đạt được sự cân bằng kinh tế và đảm bảo cho thị trường hoạt động một cách tối ưu. Chính sách tài trợ nhằm đạt được hai mục đích sau:

Duy trì và tăng cường mức sản xuất xuất khẩu

Duy trì mức sử dụng nhất định đối với các yếu tố sản xuất như lao động và tiền vốn trong nền kinh tế. Các khoản tài trợ có thể được cấp cho người sản xuất cũng như cho người tiêu dùng, nhưng về mặt tác động kinh tế thì chúng đều như nhau vì đều đưa đến những hệ quả tương tự.

Những hình thức tài trợ chủ yếu là: Trợ cấp, ưu đãi về thuế, tín dụng ưu đãi, sự tham gia của Chính phủ vào các chi phí kinh doanh cũng như hỗ trợ xuất khẩu.

Trợ cấp: Đặc điểm cơ bản của trợ cấp là hướng vào giúp đỡ phát triển sản xuất. Ở các nước công nghiệp phát triển, các khoản trợ cấp chiếm một nửa toàn bộ khối lượng tài trợ. Tỷ trọng của các khoản trợ cấp cho từng ngành trong tổng số giúp đỡ của Chính phủ có sự khác nhau đáng kể giữa các nước. Như ở Anh, Ý, Hà Lan thì trợ cấp chiếm phần lớn.

Ưu đãi về thuế: Những ưu đãi về thuế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho một số ngành trong một số loại hoạt động riêng biệt. Chúng được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước, mặc dù ít khi được phản ánh trong các chỉ tiêu của Chính phủ vì chúng là ngoại lệ khi áp dụng các thuế suất chuẩn. Ở Anh, Bỉ, Đan Mạch, giá trị của chúng không lớn, còn ở Mỹ thì tổng số ưu đãi về thuế cho công nghiệp lớn gấp 3 lần khối lượng trợ cấp.

Ưu đãi về tín dụng: Những ưu đãi về tín dụng là sự cho vay của Chính phủ với điều kiện hấp dẫn hơn là tìm kiếm trên thị trường vốn. ở các nước thuộc Cộng đồng Kinh tế Châu Âu khoảng 14% tổng khối lượng giúp đỡ cho công nghiệp được thực hiện dưới hình thức tín dụng ưu đãi. Phần lớn khối lượng tín dụng của Chính phủ Nhật Bản cấp cho các hãng vừa và nhỏ với lãi suất thấp hơn ở lãi suất thị trường vốn 0,5%.

Các Chính phủ cũng thường xuyên bảo đảm các khoản tín dụng, tức là bảo lãnh cho các công ty vay mà không trả nợ được. Phương pháp tài trợ này thường dùng cho các hợp đồng xuất khẩu để đảm bảo cho các công ty xuất khẩu của nước mình. Theo đánh giá, quy mô của tài trợ này chiếm vào khoản từ 2% đến 8% tổng tài trợ công nghiệp ở các nước công nghiệp phát triển.

Tham gia của Chính phủ vào chi phí kinh doanh: Sự tham gia của Chính phủ vào chi phí kinh doanh thường là 15% tổng tài trợ trở xuống. Từ thập kỷ 80 đến nay, phần sở hữu Nhà nước trong hoạt động kinh doanh có xu hướng giảm. Phương pháp này được sử dụng để bù đắp những tổn thất trong những lĩnh vực kinh tế riêng đang suy thoái.

Hiện nay, tài trợ công nghiệp vẫn được Chính phủ các nước phương Tây duy trì ở mức khá cao. Trên thực tế, các khoản tài trợ giúp các ngành thực hiện công nghệ mới, trang bị máy và thiết bị hiện đại, nghĩa là giúp các ngành mới gia nhập thị trường và đẩy mạnh phát triển những ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước, tăng cường xuất khẩu.

2.3. Bán phá giá cũng có thể xảy ra trong trường hợp một nước có quá nhiều hàng tồn kho không thể giải quyết theo cơ chế giá bình thường

Trong nền kinh tế hàng hóa trước đây, khi gặp khủng hoảng thừa, các chủ doanh nghiệp thường chất đống hàng hoá của mình, châm lửa đốt, hoặc đổ xuống biển để giữ giá, nhất định không bán phá giá. Còn hiện nay, ở các nước kinh tế phát triển, gặp trường hợp này, nhà buôn có thể chọn một trong hai giải pháp thường dùng. Trước hết là lưu kho chờ ngày giá lên. Nhưng lưu kho đòi hỏi phải có chỗ chứa, và chỉ áp dụng được với những mặt hành không bị hư hỏng. Giải pháp thứ hai là bán xôn. Nhiều khi đây là giải pháp duy nhất đối với một số mặt hàng: thực phẩm sắp hết thời hạn sử dụng, máy vi tính đời cũ, một số kiểu giày, quần áo hết mốt … Nhiều cửa hàng lớn ở Pháp (Paris) ngay từ khi vào mùa đã có số hàng tồn đọng lên tới 50% số dự trù bán ra. Hàng tồn kho này sẽ nhanh chóng được mang bán với giá khuyến mãi thấp hơn 30% giá bán thông thường. Đến cuối mùa, số hàng tụt xuống còn vài phần trăm, được nhượng lại cho dân bán xôn chuyên nghiệp với giá chỉ bằng 1/10 giá cũ. Dân chuyên nghiệp sẽ đẩy hết hàng ra nước ngoài, chủ yếu là sang Châu Phi, Châu Á và Đông Âu.

2.4. Bán phá giá được sử dụng như công cụ cạnh tranh

Các hãng nước ngoài sử dụng công cụ bán phá giá để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường của các nước nhập khẩu. Sau khi đã giành được vị trí khống chế thị trường, triệt tiêu được sự cạnh tranh của hàng hoá nội địa thì các hãng nước ngoài sẽ thực hiện mục tiêu cuối cùng của mình là tăng giá, tìm cách thao túng thị trường để thu được lợi nhuận tối đa.

2.5. Một nước có thể do nhập siêu lớn, cần phải có ngoại tệ để bù đắp cho thiếu hụt này

Khi đó họ có thể áp dụng công cụ bán phá giá để giải quyết vấn đề thiếu hụt ngoại tệ.

2.6. Một số nước làm ra được một số sản phẩm với giá thành rất thấp là nhờ sử dụng lao động trẻ em tiền lương thấp và sử dụng lao động của tù nhân làm hàng xuất khẩu

Theo số liệu của Văn phòng Quốc tế về lao động trẻ em (BIT) thì trên toàn thế giới hiện có tới 250 triệu trẻ em từ 5 – 14 tuổi đang tham gia một hoạt động kinh tế. Còn theo Quỹ Nhi đồng Liên Hợp quốc (UNICEF) thì tại các nước nghèo, cứ 4 trẻ em thì có một trẻ em làm việc như người lớn.

Việc sử dụng lao động trẻ em và sử dụng lao động tù nhân ngoài việc mang lại siêu lợi nhuận, nó còn là cách để cạnh tranh đối với các đối thủ làm ăn. Nhờ giá nhân công rẻ mạt, người ta có thể hạ giá thành sản phẩm, xuất khẩu hàng hoá bán phá giá ở nước ngoài.

2.7. Ở Việt Nam có hiện tượng một số công ty kinh doanh hàng nhập khẩu trả chậm, đã bán phá giá nhằm dùng nguồn vốn nước ngoài để kinh doanh mặt hàng khác và hàng nhập lậu với khối lượng lớn

Để làm được việc đó, họ tìm cách bán phá giá trên thị trường, có lúc bán ồ ạt chịu lỗ từ 10 -20% so với giá vốn nhập khẩu để nhanh chóng thu hồi vốn, đi buôn mặt hàng khác có lãi suất cao hơn, không những đủ bù lỗ số hàng nhập trả chậm, mà còn có lãi lớn.

Năm 1995, ba mặt hàng quan trọng đã bị bán phá giá theo cách tính toán trên là xăng dầu, thép xây dựng và phân bón. Cuối năm 1995, giá phân Urê Indonesia nhập vào Việt nam đang ở mức cao (260-265USD/ tấn CIF Cảng Sài gòn), nhưng giá bán buôn cả tàu tại Tân Quy, Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh liên tục giảm xuống chỉ còn 245 đồng/kg.

Ngoài ra, hàng ngoại nhập lậu với khối lượng lớn trong những năm vừa qua thu được lợi nhuận siêu ngạch từ việc trốn thuế nhập khẩu đã chiếm lĩnh thị trường với giá cạnh tranh so với hàng sản xuất trong nước, loại khỏi thị trường các doanh nghiệp làm ăn chân chính.

Tóm lại, có rất nhiều trường hợp các hãng nước ngoài có thể xuất khẩu hàng của mình sang thị trường nước khác với giá thấp hơn giá nội địa và thậm chí thấp hơn cả chi phí sản xuất, nhưng không phải tất cả mọi trường hợp đều có thể gán cho cái tên “bán phá giá” để áp dụng các biện pháp ngăn cản. Trong nhiều trường hợp làm như vậy chỉ tạo ra một sự bảo hộ không cần thiết cho ngành sản xuất trong nước, làm giảm lợi ích của người tiêu dùng cũng như của toàn xã hội.

3. Vai trò của thuế chống bán phá giá đối với bảo hộ sản xuất

Biện pháp được phép sử dụng trong chống bán phá giá là thuế theo tỷ lệ phần trăm (ad-valorem), do vậy tác động về mặt lợi ích đối với xã hội của biện pháp này cũng giống như tác động của thuế nhập khẩu thông thường theo tỷ lệ phần trăm.

Nhà nước cũng được hưởng lợi khi ngân sách thu vào từ thuế nhập khẩu tăng một lượng bằng diện tích hình chữ nhật MNHJ.

Thế nhưng, xét về tổng thể, toàn xã hội sẽ bị thiệt khi lợi ích mang lại cho các nhà sản xuất trong nước và Nhà nước không thể bù đắp cho thiệt hại về lợi ích của người tiêu dùng. Lượng thiệt hại của toàn xã hội bằng diện tích tam giác CMJ cộng với diện tích tam giác NBH.

Ngoài tác động bảo hộ của thuế chống phá giá như phân tích trên đây, quá trình dẫn đến việc áp dụng thuế chống phá giá cũng phần nào có tác động bảo hộ. Ví dụ, bản thân việc bắt đầu quá trình điều tra chống phá giá có nghĩa là trong tương lai rất có thể thuế chống phá giá sẽ được áp dụng, làm cho sản phẩm là đối tượng điều tra trở nên ít hấp dẫn hơn đối với các nhà nhập khẩu, như vậy phần nào đã ngăn cản dòng hàng hoá nhập khẩu.