You are here: Home » Blog » Nội dung quy hoạch sử dụng đất đai và những căn cứ

Nội dung quy hoạch sử dụng đất đai và những căn cứ

Trong bài viết sau đây, khoaluantotnghiep.net xin chia sẻ đến bạn những căn cứ quy hoạch sử dụng đất đai và nội dung quy hoạch sử dụng đất đai một cách chi tiết nhất.

Nội dung quy hoạch sử dụng đất đai và những căn cứ
Nội dung quy hoạch sử dụng đất đai và những căn cứ

>>> Xem thêm: Khái niệm, đặc điểm về quy hoạch sử dụng đất đai

1. Những căn cứ quy hoạch sử dụng đất đai

1.1. Căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội là quy hoạch tầm vĩ mô của nhà nước, nhằm bố trí, sắp xếp các ngành nghề, các nguồn lực sản xuất xã hội sao cho hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nhất. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội xây dựng mục tiêu, phương hướng và kế hoạch cho các hoạt động của toàn bộ lĩnh vực trong xã hội. Góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước một cách toàn diện và bền vững.

Quy hoạch tổng thể kinh tế-xã hội là cơ sở cho các quy hoạch khác xác định và định hướng thực hiện. Quy hoạch tổng thể định hướng cho các ngành, các lĩnh vực hoạt động trong xã hội, nó vạch ra hướng đi ở tầm vĩ mô cho các ngành các lĩnh vực nhằm thúc đẩy các ngành phát triển đúng hướng. Nó chỉ ra nhu cầu của các ngành, trong đó chỉ rõ nhu cầu sử dụng đất của các ngành. Bởi vì đất đai là tiền đề, là cơ sở, là nền tảng cho mọi hoạt động sản xuất trong xã hội. Từ bộ khung mà quy hoạch tổng thể kinh tế-xã hội xây dựng lên giúp cho quy hoạch sử dụng đất đai cũng như các quy hoạch khác thực hiện một cách nhanh chóng và hiệu quả cao.

Quy hoạch sử dụng đất đai chỉ là một bộ phận của quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội. Quy hoạch sử dụng đất căn cứ vào bộ khung của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội đã vạch ra sẵn, để cụ thể hoá và chi tiết hoá các chi tiết các nhân tố của quy hoạch tổng thể. Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội đã xác định rõ quy mô, địa điểm và phương hướng hoạt động của từng vùng, từng lĩnh vực. Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất đai chỉ việc căn cứ ngay vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội mà bố trí, sắp xếp phân bố đất sao cho đầy đủ, hợp lý và hiệu quả cao nhất, mà không phải làm lại quy hoạch từ đầu.

1.2. Căn cứ pháp lý của quy hoạch sử dụng đất đai

Ý chí của toàn đảng, toàn dân về vấn đề đất đai đã được thể hiện trong hệ thống các văn bản pháp luật như hiển pháp, luật và các văn bản dưới luật. Những văn bản tạo cơ sở vững chắc cho công tác lập quy hoạch, lập kế hoạch sử dụng đất đai, giúp giải quyết về mặt nguyên tắc những câu hỏi đặt ra: sự cần thiết về mặt pháp lý phải lập quy hoạch sử dụng đất đai.Trách nhiện lập quy hoạch sử dụng đất đai, nội dung lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai.

Sự cần thiết về mặt pháp lý phải lập kế hoạch sử dụng đất đai

Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam năm 1992 đã khẳng định “đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân”, “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả” (chương II điều 18).

Điều 1 luật đất đai năm 1993 cũng nêu rõ: ” đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý “.

Điều 13 luật đất đai xác định một trong những nội dung quản lý nhà nước về đất là: “quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất “.

Điều 18, điều 1, điều 13 có ý nghĩa rất quan trọng, nó cho ta biết đất đai của nhà nước ta là do người dân làm chủ, nhân dân có quyền quyết định sử dụng đất. Nhưng do tầm quan trọng của đất đai, nhà nước đúng ra làm người đại diện cho nhân dân thống nhất quản lý đất đai và có quyển quyết định và định đoạt việc sử dụng đất đai đúng mục đích và có hiệu quả. Nó cũng đặt ra yêu cầu phải quản lý đất đai theo quy hoạch. Mặt khác, điều 19 luật đất đai cũng đã khẳng định: “Căn cứ để quyết định giao đất là quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt “. Tức là việc giao đất cho các đối tượng sử dụng là phải dựa trên quy hoạch và phù hợp với quy hoạch.

Ở điều 17 luật đất đai năm 1993 quy định rõ nội dung tổng quát của quy hoạch sử dụng đất. Vì vậy, công tác lập quy hoạch sử dụng đất đai mang tính chất pháp lý rất cao. Do đó, để sử dụng và quản lý đất đai một cách có hiệu quả nhất thiết là phải quy hoạch.

Trách nhiệm lập quy hoạch sử dụng đất đai

Điều 16 luật đất đai năm 1993 quy định rõ trách nhiệm lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai theo các cấp lãnh thổ hành chính, theo ngành cũng như theo trách nhiệm của ngành địa chính về công tác này:

Chính phủ lập quy hoạch. kế hoạch sử dụng đất đai của cả nước

– UBND các cấp( tỉnh, huyện, xã )lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai trong địa phương mình( quy hoạch theo lãnh thổ hành chính ), trình hội đồng nhân dân thông qua trước khi trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.

Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ căn cứ vào quyền hạn của mình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất dai cho ngành, lĩnh vực mình phụ trách để trình chính phủ xét duyệt (quy hoạch ngành).

Cơ quan quản lý đất đai ở trung ương và địa phương phối hợp với các cơ quan hữu quan giúp chính phủ và UBND các cấp lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai (bốn cấp lãnh thổ hành chính, bốn cấp cơ quan ngành).

Nội dung lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai

Điều 17(luật đất đai năm 1993) quy định nội dung tổng quát của quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai:

* Nội dung quy hoạch sử dụng đất đai bao gồm:

Một là, khoanh định các loại đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư, nông thôn, đất đô thị, đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng của từng đại phương và cả nước. Tức là việc ta bố trí địa điểm và phân bổ quỹ đất cho các ngành theo nhu cầu sử dụng đất đai cho phát triển các ngành trên từng địa phương trong cả nước.

Hai là, điều chỉnh việc khoanh định nói trên cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội của từng địa phương và trong phạm vi cả nước.

Xã hội ngày càng có xu hướng đi lên, nhu cầu sử dụng đất cho phát triển các ngành ngày càng tăng. Do đó, việc bố trí, phân bổ và điều chỉnh lại quỹ đất đai cho các ngành là việc nên làm.

* Nội dung kế hoạch sử dụng đất đai bao gồm:

Một là, khoanh định việc sử dụng từng loại đất trong từng thời kỳ kế hoạch. Thường thời gian quy định từ 10 đến 20 năm và lâu hơn nữa. Do đó, để cho quá trình thực hiện nội dung quy hoạch đã làm được dễ dàng người ta chia thời gian quy hoạch thành các kế hoạch 5 năm hoặc 10 năm để thực hiện dần.

Hai là, điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất đai cho phù hợp với quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai được thực hiện trên cái khung mà quy hoạch sử dụng đất đai chỉ ra. Do đó, kế hoạch sử dụng đất đai bị giới hạn trong cái khung đó và được điều chỉnh cho phù hợp với quy hoạch.

Thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai.

Điều 18 (luật đất đai năm 1993) quy định thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai:

Quốc hội quy định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước.

Chính phủ xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của các cán bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, của uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Uỷ ban nhân dân cấp trên xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của uỷ ban nhân dân các cấp dưới trực tiếp.

Ngoài các văn bản chính có tính pháp lý ở mức độ cao ( hiến pháp và luật pháp đất đai ). Còn có các văn bản dưới luật cũng như văn bản ngành trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến vai trò, ý nghĩa, căn cứ, nội dung và hướng dẫn phương pháp lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai như: nghị định 404/CP, ngày 7/11/79; nghị định 34/CP,ngày 23/4/1994; chỉ thị 247/ ttg, ngày 28/4/1995; chỉ thị 245/ ttg, ngày 22/4/1996; thông tư 106/ QHKH?ĐC,ngày 15/4/19991;công văn 518/ CV-ĐC,ngày 10/9/1997; quyết định 657QĐ/ĐC,ngày 28/01/1995…Tuy nhiên, trong những năm qua việc ban hành một số văn bản dưới luật để cụ thể hoá cơ sở pháp lý của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, còn chậm. Như chưa có nghị định của chính phủ về công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, các thông tư của tổng cục địa chính về công tác lập quy hoạch,kế hoạch sử dụng đất.

1.3. Căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất đai và tiềm năng đất đai

Để quy hoạch sử dụng đất đai đạt tính hiệu quả cao, các nhà quy hoạch chỉ căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, căn cứ pháp lý của quy hoạch sử dụng đất mà còn phải căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất và tiềm năng sử dụng đất đai nữa. Tuỳ vào tiềm năng đất đai mỗi vùng, hiện trạng sử dụng đất đai của từng nơi, các nhà quy hoạch phải nắm chắc tình hình sử dụng đất của từng nơi đó như: tổng quỹ đất tự nhiên, quỹ đất cho phát triển các ngành, các vùng và tất cả các thành phần kinh tế quốc dân. Từ đó, họ nắm được những thuận lợi cũng như khó khăn, những vấn đề đạt được và chưa đạt được trong quá trình sử dụng đất.

Việc quy hoạch sử dụng đất phải dựa trên những số liệu thực tế của quá trình sử dụng đất để biết, để đánh giá xem chỗ nào là quy mô thích hợp, chưa  thích hợp, sử dụng đất chưa hợp lý, chưa tiết kiệm, phát hiện ra những vùng, các thành phần có khả năng mở rộng quy mô trong tương lai. Lấy nó làm căn cứ, làm cơ sở cho việc bố trí, sắp xếp và phân bố đất đai sao cho đầy đủ, hợp lý và tiết kiệm cao nhất.

2. Nội dung của quy hoạch sử dụng đất đai

2.1. Tổ chức điều tra thu thập thông tin, tài liệu, số liệu, bản đồ

Bước đầu tiên này rất quan trọng, nó là cơ sở để thực hiện các bước sau.Do đó, trong bước này càng làm kĩ bao nhiêu thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho thực hiện các bước sau bấy nhiêu. Nội dung cụ thể phải thực hiện bao gồm các công việc sau:

Thu thập và phân loại các thông tin, số liệu, tư liệu, bản đồ về đất đai.thông qua các chỉ tiêu đặt ra, ta xuống tận cơ sở cần quy hoạch để thu thập thông tin và ở các trung tâm lưu trữ tư liệu khác.

– Sau đó ta phải đánh giá độ tin cậy của các thông tin, số liệu thu thập được, dùng các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật và môi trường để đánh giá xem độ sát thực của thông tin được bao nhiêu phần trăm.

Từ đó ta nội nghiệp mới hoá thông tin, số liệu, bản đồ.

Xây dựng kế hoạch công tác ngoại nghiệp : Chính là xác định những nội dung, địa điểm cần khảo sát thực địa. Đưa ra các kế hoạch điều tra, đo vẽ bản bổ sung, kế hoạch tiến hành khảo sát thực địa, xây dựng phương pháp, tổ chức điều tra thông tin bổ sung. Sau đó ta phải kết hợp xử lý nội nghiệp và ngoại nghiệp chuẩn hoá các thông tin, số liệu, bản đồ.

Tổng duyệt các tài liệu, số liệu điều tra cơ bản, thông tin, bản đồ và chọn các số liệu gốc.

Xác định cơ sở pháp lý của bộ số liệu gốc.

2.2. Đánh giá thực trạng sử dụng đất và kinh tế xã hội

Đánh giá thực trạng sử dụng đất đai: ta phải dựa trên các chỉ tiêu về quy mô đất, cơ cấu đất đai, chủng loại đất đai và chất lượng đất đai. Từ đó đánh giá mức độ biến động đất đai qua các năm. Phân tích nguyên nhân dẫn đến những biến động đó. Đánh giá tình hình sử dụng đã hợp lý chưa, phân bổ, bố trí địa điểm có phù hợp không. Rút ra những mặt tồn tại và đã đạt được.

Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế xã hội gây áp lực đối với đất đai, dựa vào rất nhiều các chỉ tiêu như: GDP chung và GDP bình quân đầu người, thu nhập, tiêu dùng tích luỹ của dân cư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế (theo ngành.theo lãnh thổ).

Về dân số, dân số trong nông nghiệp và phi nông nghiệp, dân số đô thị và nông thôn. Tỷ lệ tăng dân số, dự báo biến động dân số trong tương lai.

Thực trạng phát triển của các đô thị: thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ và các vùng ven đô. Từ đó ta đánh giá nhu cầu sử dụng đất đai của các đô thị đó trong tương lai.

Đánh giá tốc độ phát triển của các ngành: công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, xây dựng và dịch vụ du lịch, nghỉ mát, văn hoá thể thao. Dựa trên những chỉ tiêu về quy mô, cơ cấu các ngành, nhu cầu phát triển của các ngành.

Đánh giá các chính sách mới của chính phủ về phát triển kinh tế xã hội gây áp lực về cường độ sử dụng đất đai. Đánh giá mức độ tác dụng của các chính sách đến đời sống nhân dân: khuyến khích làm giàu, mở cửa, đối tác với nước ngoài, gọi vốn đầu tư, tác dụng mạnh mẽ của kinh doanh bất động sản.

2.3. Dự báo các nhu cầu sử dụng đất đai

Dự báo nhu cầu đất nông nghiệp (đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm và cây ăn quả, đất đồng chăn thả, diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ hải sản ),dự báo nhu cầu đất phi nông nghiệp (đất cho khu dân cư nông thôn, đất cho phát triển đô thị, đất cho phát triển cây công nghiệp và dịch vụ, đất cho phát triển giao thông, đất cho nhu cầu phát triển thuỷ lợi…). Ta phải dự báo được giá trị sản xuất của các ngành như giá trị ngành nông nghiệp, giá trị công nghiệp, ngành dịch vụ và ngành giao thông….Dự báo quy mô của các ngành, cơ cấu các ngành.

Những căn cứ dự báo nhu cầu sử dụng đất:

Căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội, sự phát triển của từng ngành.

Căn cứ quỹ đất hiện có bao gồm cả số lượng,đặc điểm tài nguyên đất và khả năng mở rộng diện tích cho một số mục đích sử dụng.

-Căn cứ vào khả năng đầu tư và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ trong các giai đoạn. Từ đó có thể dễ dàng xác định được nhu cầu sử dụng đất ứng với số vốn và khoa học kỹ thuật.

Căn cứ vào lực lượng lao động, lịch sử và thực trạng năng suất cây trồng, mức tăng trưởng bình quân hàng năm của từng ngành. Lực lượng lao động mà có trình độ tay nghề cao thì khả năng mở rộng quy mô sản xuất lớn và ngược lại.

Thực trạng năng suất cây trồng mà cao thì quy mô và cơ cấu cây trồng cũng thay đổi. Do vậy, việc dự báo nhu cầu sử dụng đất luôn phải căn cứ vào các nhân tố này.

Nhu cầu về nguyên liệu cho ngành công nghiệp (gỗ cho xây dựng, gỗ để sản xuất hàng tiêu dùng, đất để sản xuất vật liệu xây dựng,…) khi nền công nghiệp vàng phát triển, nhu cầu về nguyên vật liệu cho ngành công nghiệp cũng như các ngành khác ngày càng gia tăng. Điều đó, dẫn đến nhu cầu sử dụng đất đai đáp ứng cho các ngành luôn thay đổi.

Căn cứ vào tốc độ gia tăng dân số, phát triển đô thị, các điều kiện về kết cấu hạ tầng, tính lịch sử các tụ điểm dân cư và các điều kiện địa hình, thuỷ văn.

2.4. Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất đai

Sau khi ta dự báo đầy đủ nhu cầu sử dụng đất đai ( 6 loại đất chính ), xác định được nhu cầu biến động của từng đất đai. Từ đó, ta xây dựng dự án quy hoạch sử dụng từng loại đất đai.Nội dung chính của bước xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất này là phân bố, bố trí từng loại đất đai cho các nhu cầu đã dự báo theo các phương án lựa chọn. Xác định rõ ràng vùng này là đất gì, quy mô bao nhiêu, chuyển bao nhiêu đất nông nghiệp sang các ngành khác, phân bổ như thế nào( bao nhiêu cho đất trồng cây hàng năm, lâu năm, đất vườn tạp trong khu vực dân cư, đất ở dành cho chăn nuôi…). Tương tự như vậy, ta cũng phân bố quỹ đất các loại cho các nhu cầu theo các chỉ tiêu đặt ra.

Việc phân bố quỹ đất đai trên là dựa vào một số căn cứ sau: căn cứ vào mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất, nhu cầu sử dụng đất của các ngành, các lĩnh vực và tính khả thi của việc khai thác mở rộng diện tích các loại đất.

2.5. Tổng hợp các phương án quy hoạch sử dụng từng loại đất đai

Từ bước trên ta xây dựng song phương án quy hoạch sử dụng từng loại đất đai. Trong bước này, ta tổng hợp toàn bộ các phương án quy hoạch sử dụng đất chung. Từ đây ta xác định rõ được vùng nào có tổng diện tích bao nhiêu, đất nông nghiệp chiếm bao nhiêu, đất khu dân cư, đất giao thông….chiếm bao nhiêu và nhiệm vụ phải thực hiện của vùng đó.

Đó chính là việc ta hoàn thiện bản đồ quy hoạch sử dụng đất đai. Trên bản đồ phản ánh toàn bộ phương hướng và nội dung đất đai trong tương lai. Nội dung bản đồ quy hoạch sử dụng đất đai bao gồm:

– Ranh giới hành chính, các yếu tố chủ yếu, mạng lưới thuỷ lợi, mạng lưới giao thông.

– Hiện trạng các loại đất theo từng mục đích sử dụng.

– Các loại đất theo quy hoạch: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư nông thôn, đất đô thị, đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng.

2.6. Kế hoạch thực hiện sử dụng đất đai

Nội dung của quy hoạch sử dụng đất đai đã được thể hiện rõ ở bước trên.Do đó,ta chỉ việc xây dựng từng bước đi cụ thể hoá các nội dung đó đưa vào thực tiễn. Ta chia quá trình thực hiện quy hoạch sử dụng đất thành các giai đoạn, trong các giai đoạn đoạn thực hiện những nội dung cụ thể đã vạch ra sẵn trong phương án quy hoạch chung. Phải chỉ rõ được cái gì làm trước, cái gì làm sau,thời gian hoàn thành mỗi giai đoạn là bao nhiêu.Trong mỗi giai đoạn thực hiện sẽ gặp phải một số vướng mắc,để giải quyết những khó khăn đó thì cần có những biện pháp nào hoặc có những giải phấp nào để tháo gỡ.