You are here: Home » Blog » Khái quát về tín dụng và hợp đồng tín dụng

Khái quát về tín dụng và hợp đồng tín dụng

Trong bài viết sau đây, khoaluantotnghiep.net xin chia sẻ đến bạn nội dung khái quát về tín dụng và hợp đồng tín dụng.

Khái quát về tín dụng và hợp đồng tín dụng
Khái quát về tín dụng và hợp đồng tín dụng

>>> Xem thêm: Những vấn đề cơ bản về kinh doanh ngoại hối

1. Tín dụng

1.1. Khái niệm về tín dụng

Tín dụng (TD) là mối quan hệ kinh tế giữa người đi vay và người cho vay. Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho vay cho người đi vay trong một thời gian nhất định. Người đi vay có nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hoá đã vay khi đến hạn trả nợ có kèm hoặc không kèm theo một khoản lãi. TD có vị trí quan trọng đối với việc tích tụ, tận dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để phát triển kinh doanh.

1.2. Phân loại tín dụng

Dựa vào từng tiêu chí mà có nhiều cách phân loại TD khác nhau sau đây:

Dựa vào thời hạn TD: có 3 loại. 

  • TD ngắn hạn : dưới 1 năm.
  • TD trung hạn: từ 1 đến 5 năm.
  • TD dài hạn: 5 năm trở lên.

Dựa vào mục đích sử dụng:

  • TD sản xuất và lưu thông hàng hóa.
  • TD tiêu dùng.

Dựa vào chủ thể trong quan hệ TD:

  • TD thương mại: là hình thức mua bán chịu hàng hóa, giấy nợ trong việc mua bán nợ này là thương phiếu ( nó bao gồm hối phiếu và lệnh phiếu).
  • TD nhà nước: bao gồm tín phiếu kho bạc (TD ngắn hạn) và trái phiếu (TD dài hạn).
  • TD ngân hàng: là hình thức vay nợ tiền tệ (bao gồm tiền mặt và bút tệ). Đây là một nhánh lớn trong hoạt động TD, phần lớn khối lượng giao dịch TD nằm trên kênh TD này.

2. Hợp đồng tín dụng

2.1. Khái niệm về hợp đồng tín dụng

Khái niệm hợp đồng dân sự được quy định theo Điều 388 BLDS 2005, hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, từ đó có thể hiểu “HĐTD là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa TCTD (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ những điều kiện luật định (bên vay), theo đó TCTD chuyển giao một số tiền tệ hoặc cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi.”

Vậy pháp luật VN không đưa ra cụ thể khái niệm về HĐTD mà chúng ta chỉ có thể hiểu nó dựa trên định nghĩa Hợp Đồng Dân Sự.

2.2. Đặc điểm của hợp đồng tín dụng

Thứ nhất, về hình thức: HĐTD luôn được lập thành văn bản, hầu hết là hợp đồng theo mẫu.

Thứ hai, đối tượng HĐTD: là những khoản vốn được thể hiện dưới hình thức tiền tệ. Vốn tiền tệ trong HĐTD có thể là tiền đồng Việt Nam, vàng hoặc ngoại tệ; tồn tại dưới dạng tiền mặt, vật hiện hữu hoặc bút tệ.

Thứ ba, bên cho vay trong HĐTD: luôn là TCTD (bao gồm ngân hàng và TCTD phi ngân hàng).

Thứ tư, HĐTD phải được tuân thủ chặt chẽ theo đúng quy luật của pháp luật về:

Năng lực chủ thể của các bên tham gia quan hệ tín dụng. Mục đích sử dụng vốn vay.

Giới hạn vốn vay.

Thứ năm, nội dung hợp đồng tín dụng phải có:

o Điều kiện vay

o Mục đích sử dụng tiền vay

o Hình thức vay, số tiền vay lãi suất

o Thời hạn vay

o Hình thức bảo đảm 

o Giá trị tài sản bảo đảm

o Phương thức trả nợ

o Những cam kết khác được các bên thỏa thuận

(Điều 51 Luật các TCTD)

Thứ sáu, tổ chức tín dụng có quyền xem xét, quyết định cho vay hay không dựa trên cơ sở có bảo đảm hoặc không có bảo đảm bằng tài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng vay, bảo lãnh của bên thứ ba và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Tổ chức tín dụng không được cho vay trên cơ sở cầm cố bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng cho vay.

Thứ bảy, mức lãi suất cho vay: phù hợp với quy định của NHNN Việt Nam.

Thứ tám, lãi suất nợ quá hạn: không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng.

Thứ chín, khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng: Thẩm phán phải theo dõi lãi suất cơ bản do Thống đốc NHNN công bố trong từng thời kỳ.

Thứ mười, nếu bên vay sử dụng vốn vay không đúng mục đích đã thỏa thuận, thì ngân hàng lập tức được quyền chấm dứt hợp đồng, phạt vi phạm và thu hồi nợ trước hạn.

3. Một số điểm cần lưu ý trong hợp đồng tín dụng

3.1. Thu hồi nợ ngắn hạn

Một mặt, cho phép các ngân hàng được phép thu hồi nợ trước hạn nếu bên vay vi phạm hợp đồng tín dụng (theo Quyết định số 1627/2010/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN).

Mặt khác: quy định của BLDS thì bên cho vay “Không được yêu cầu bên vay trả lại tài sản trước thời hạn”, trừ trường hợp được bên vay đồng ý.

Cách giải quyết mâu thuẫn này là các bên nên có thoả thuận trong hợp đồng tín dụng với nội dung: Trường hợp bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ một kỳ hạn trả nợ thì các kỳ hạn khác chưa đến hạn cũng được coi là đến hạn trả nợ và ngân hàng có quyền thu hồi nợ trước hạn.

3.2. Cơ cấu thời hạn trả nợ

Trường hợp bên vay không có khả năng trả nợ theo đúng thoả thuận ban đầu, nếu đủ điều kiện thì có thể được ngân hàng xem xét cho cơ cấu lại thời hạn trả nợ, bao gồm hai cách là gia hạn nợ và điều chỉnh kỳ hạn trả nợ.

Trước 2005, NHNN quy định:

Khoản vay ngắn hạn chỉ được gia hạn tối đa bằng thời hạn cho vay. Khoản vay trung, dài hạn tối đa bằng ½ thời hạn cho vay.

Từ 2005 đến nay, theo quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03 tháng 2 năm 2005 của thống đốc NHNN: các khoản nợ được gia hạn nhiều lần, với thời hạn không bị hạn chế.

3.3. Thẩm quyền ký hợp đồng

Mỗi bên chỉ cần một người đại diện có thẩm quyền ký hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều trường hợp bên ngân hàng có hai chữ ký (giám đốc và trưởng phòng tín dụng), đồng thời yêu cầu bên vay cũng có hai chữ ký (giám đốc và kế toán trưởng đối với doanh nghiệp hoặc hai vợ chồng đối với cá nhân).

Ngoài ra, đối với cả ngân hàng và bên vay là doanh nghiệp, thì đòi hỏi phải có sự thông qua của cấp có thẩm quyền đối với các trường hợp khoản tín dụng đạt đến một mức nhất định như:

Bên vay là doanh nghiệp phải thông qua Hội đồng Thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty hoặc HĐQT trong trường hợp giá trị khoản vay hay giá trị tài sản cầm cố, thế chấp “bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính tại thời điểm công bố gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty” (§ 47, 64 và 108 LDN).

Đối với ngân hàng, nếu các khoản cho vay có giá trị từ 10% tổng tài sản của ngân hàng trở lên, thì cũng phải thông qua HĐQT hoặc được HĐQT phân cấp, uỷ quyền. Đối với các khoản vay trên 15% vốn tự có của ngân hàng, thì phải được Thủ tướng Chính phủ hoặc Thống đốc NHNN cho phép.

Chú ý: Khi ký kết HĐTD nói riêng, HĐ nói chung, phải xem xét kỹ càng chủ thể ký kết HĐ có đủ thẩm quyền ký kết HĐ hay không để tránh trường hợp HĐ bị vô hiệu hóa gây thiệt hại cho các bên tham gia vào HĐ.